Cổ tử cung của người nào dễ bị ung thư?
Ung thư cổ tử cung thông thường xảy ra dần dần, chậm chạp qua nhiều thời gian và rất lâu.Cụ thể,từ cổ tử cung thường nhật sẽ chuyển qua sản gai,đến dị sản nhẹ hay trung bình.Tiếp đó là đến nặng,rồi đến ung thư tại chỗ.Kế đến là dẫn đến ung thư vi lấn chiếm và chung cuộc sẽ là ung thư lấn chiếm thật sự.thời gian để một cổ tử cung thường ngày thành ung thư tại chỗ mất tối thiểu 4-5 năm.Tuổi thường mắc bệnh này rơi vào từ 30-59 tuổi,nhiều nhất là ở độ tuổi từ 45-55 tuổi.rất ít khi thấy ở phụ nữ dưới 20 tuổi.nữ giới độc thân một vợ một chồng và không hút thuốc lá cũng ít khi có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung.cho dù ở thời đoạn sớm thỉnh thoảng không xuất hiện triệu chứng nhưng bệnh lại dễ dàng chẩn đoán được qua thăm khám,xét nghiệm tế bào kết hợp soi cổ tử cung.
Có nhiều loại ung thư cổ tử cung hay gặp nhất là ung thư tế bào gai và ung thư tuyến.Bệnh này cũng có thời kì tiền ung thư rất rõ ràng. Ở thời kì tiền ung thư,bệnh hầu như thường có triệu chứng,chỉ phát hiện được bằng phết tế bào ung thu co tu cung (còn gọi là xét nghiệm Pap) hoặc bằng soi cổ tử cung.Do đó vớ nữ giới đã có hoạt động dục tình nên làm phết tế bào cổ tử cung định kỳ. Khi đã chuyển sang mức nặng hơn, bệnh có các triệu chứng: huyết trắng kéo dài, có mùi hôi, hoặc có vấy một tẹo máu; xuất huyết âm đạo (có thể xảy ra thiên nhiên hoặc sau quan hệ, sau làm việc nặng, sau khi rặn để tiểu tiện, hay sau mãn kinh). Khi bệnh trầm trọng,có ra dịch nhiều lẫn máu từ âm đạo, kèm theo đau nhức vùng lưng, vùng chậu hoặc ở chân. Vào thời đoạn muộn, người bệnh bị vô niệu do ung thư chèn ép vào hai niệu quản.
Phát hiện sớm chữa khỏi hoàn toàn
Trước khi phát bệnh,sẽ có những thất thường của tế bào cổ tử cung gọi là tình trạng dị sản, nhận ra bằng xét nghiệm Pap. Dị sản nhẹ có thể trở về thường nhật. Nếu xuất hiện tình trạng dị sản nặng hơn hoặc ung thư ở giai đoạn sớm,vẫn có thể điều trị khỏi hoàn toàn.Nếu không điều trị, ung thư lan tràn đến các tổ chức trong vùng chậu. Cơ hội chữa lành bệnh lúc này sẽ tùy thuộc vào từng chừng độ phát bệnh.Tỷ lệ sống sót sau năm năm sau điều trị đối với ung thư tuổi sớm là 50-80%,dù được điều trị bằng xạ trị hay phẫu thuật. thời đoạn muộn chỉ còn 10-30%,nhưng có thể tăng lên tới 30-50% nếu người bệnh thuộc nhóm giải phẫu đủ rộng.
thời đoạn tiền ung thư hoặc ung thư tại chỗ: chữa trị bằng phương pháp khoét chóp cổ tử cung bằng dao, bằng vòng đốt điện, bằng laser, hoặc phẫu thuật lạnh với nitrogen lỏng (thường gọi là đốt lạnh). Các cách này có ưu thế là thời kì chữa trị ngắn, mức phí thấp, ít biến chứng, lành bệnh nhanh. Không những thế, cổ tử cung còn giữ được nên người bệnh vẫn còn thể mang thai. Trong trường hợp đang mang bầu, có thể đợi đến sau đẻ sẽ chữa trị.Nếu như vùng ung thư đã lan tới kênh cổ tử cung thì khoét chóp để lấy hết được mô bệnh. Các trường hợp ung thư lan tràn nhiều hơn, phương pháp điều trị sẽ tùy thuộc chừng độ lan tràn, tuổi bệnh nhân, (thường là phác đồ phối hợp giữa xạ trị (xạ trị trong,xạ trị ngoài) với giải phẫu Wertheim-Meig (bao gồm cắt tử cung toàn phần, âm đạo, mô chung quanh tử cung, hai phần phụ (hai vòi trứng và hai buồng trứng) kèm nạo hạch chậu hai bên).
Khi ung thư đã tiến triển xa: lan tràn tới các tổ chức vùng chậu, bệnh nhân sẽ được xạ trị. thỉnh thoảng, cần phải giải phẫu cắt bỏ rộng gồm bàng quang, âm đạo, cổ tử cung, tử cung, trực tràng.
Xem thêm:
EmoticonEmoticon